đông y - logo bệnh viện Hồng Đức
     
 
 
 
Thông Tin Mới
12 LOẠI RAU QUẢ KHIẾN MẸ DỄ SẨY THAI
13/07/2014 | Xem thêm
----------------------------------
4 LOẠI THỰC PHẨM GIÀU CHẤT SẮT
05/06/2014 | Xem thêm
----------------------------------
ỚT CHUÔNG : MÔ TẢ - CÔNG DỤNG
22/05/2014 | Xem thêm
----------------------------------
HỎI ĐÁP VỀ UNG THƯ VÀ DINH DƯỠNG
08/05/2014 | Xem thêm
----------------------------------
THỰC PHẨM TỐT CHO BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
16/04/2014 | Xem thêm
----------------------------------
 
 
 
 
Liên Kết
 
 
 
 
 
 
HTML Counter
 

ĐỊNH NINH TÔI HỌC MẠCH (Kỳ 4)

(TIẾP THEO KỲ 3)

2.2.CÁCH ĐỂ TAY XEM MẠCH

            Người thầy thuốc khi bắt đầu để tay xem mạch cho người bệnh, lẽ tất nhiên, bao giờ cũng để 3 ngón tay (ngón trỏ, ngón giữa, và ngón vô danh đeo nhẫn) của mình vào 3 bộ mạch Thốn Quan Xích ở cổ tay của người bệnh. Nhưng khi để 3 ngón tay xem mạch cũng phải có phương cách của nó, chứ không thể rằng đơn giản.
      2.2.1.Xưa dạy:
            Người thầy thuốc khi xem mạch cho người bệnh, muốn đem 3 ngón tay bên trái hay bên phải của mình mà xem mạch, thì tay nào (trái hay phải) của mình xem tay nào (trái hay phải) của bệnh nhân cũng được, nghĩa là tùy tiện, chứ không nhất định tay nào xem tay nào vậy. Tuy nhiên cũng có lúc cần phải dùng đến phép “Nam tả, Nũ hữu” (Điểm này nói rõ ở đoạn sau).
            -Khi xem mạch ta để ngón tay giữa vào bộ Quan trước, lấy ngón tay giữa nơi bộ Quan đó làm chuẩn.
            -Lần lượt để ngón trỏ và ngón vô danh (đeo nhẫn) xuống, ngón nào trước cũng được.
            -Ngón trỏ xuống phía ngoài bộ Quan (nơi tiếp giáp bàn tay) là Thốn.
            -Để ngón tay vô danh xuống phía trong bộ Quan (nơi giáp cánh tay) là bộ Xích.
Trong khi để tay xem mạch, nói chung, nếu bệnh nhân người cao, ta để ngón tay của ta, ngón nọ hơi xa ngón kia một chút, mà người lùn ta để 3 ngón khít nhau. Bởi người cao, xương dài thì mạch có xa nhau, mà người lùn xương ngắn mạch có gần nhau, đó cũng là một cách tính toán kỹ.
            2.2.2.Định Ninh thêm:
            -Bệnh nhân người béo, thịt dầy phải ấn nặng tay xuống mới thấy mạch, tối đa chỉ thấy mạch trầm, khó thấy mạch phù.
            -Người gầy, da thịt mỏng để nhẹ tay đã thấy mạch, có người ta nhìn thấy mạch đi, đó cũng là điều phải ghi nhận.
            Để ngón tay như vậy mới đúng bộ, mới đủ độ để nghe sức mạch đi lại. Đó là phương cách để tay xem mạch của người xưa dạy.
      2.2.3.Ngày nay :
            -Khi bệnh nhân để ngửa bàn tay xin xem mạch, còn có mấy thầy thuốc, một tay lật xấp bàn tay bệnh nhân xuống rồi để ngón tay giữa của mình vào nơi xương cao (mắt cá tay) phía lưng cổ tay của bệnh nhân, kéo theo chiều ngang cổ tay, đồng thời tay kia thầy lật ngữa bàn tay bệnh nhân lên, kéo tới chỗ trũng nơi có mạch thì dừng lại, nơi ấy là bộ Quan (trung điểm), rồi lần lượt để 2 ngón kia như thường lệ là đúng cả 3 bộ. Có thầy đặt 3 ngón tay nằm ép thẳng trên ba bộ để nghe mạch. Lại còn có thầy, một tay xem mạch, một tay để trên bàn tay bệnh nhân như đè giữ lấy, mặc dầu tay bệnh nhân vẫn bình thường không bị run giựt.
      
   
 
2.2.4.Như vậy :
           -Nay ta thường thấy mấy cụ thầy thuốc khi xem mạch vẫn cứ theo đường lối “để tay, lật tay, đè tay” nói trên. Có lẽ mấy cụ thầy ấy nghe lời thầy dạy trước thế nào, thì nay còn cứ thế chưa suy xét.
            -Muốn để ngón tay xem mạch đúng bộ, khi bệnh nhân để ngửa bàn tay, ta nhìn cổ tay nơi ngón cái thẳng lên, chổ có cái xương nhô ra, ta để đầu ngón tay giữa của ta vào chỗ đó là đúng bộ Quan (như trên đã nói) đâu có gì khó? Nào có phải lật sấp, lật ngửa bàn tay bệnh nhân, nào có phải để ngón tay giữa của mình vào mắt cá tay phía lưng cổ tay của bệnh nhân mà kéo vòng qua bên này mới là đúng bộ, lại một bàn tay đè giữ bàn tay bệnh nhân nữa, như vậy chẳng những tỏ ra vụng về, lại có vẻ làm ra kiểu cách và có khi gây ra dị nghị không hay.
            -Ngự Y xem mạch Hoàng hậu, Công chúa và Cung phi còn phải nghiêm cẩn lấy miếng lụa mỏng trải lên cổ tay những vị ấy rồi ngự y mới được để tay xem mạch. (bạc sa tráo thủ: lụa mỏng trải trên tay).
            -Nay tôi đã gập, một cặp vợ chồng trẻ. Chồng dẫn vợ vào phòng mạch của tôi nhờ tôi xem mạch cho người vợ. Khi tôi xem mạch, chồng ngồi kế bện vợ. Tôi xem mạch xong, chồng gọi vợ ra cửa nói lớn: sao ông ấy để tay lên cổ tay mày lâu thế?
            Còn việc những cụ thấy để 3 ngón tay nằm ép thẳng trên 3 bộ mạch của bệnh nhân thì cũng chẳng hiểu những cụ thầy ấy sử dụng ngón tay mình, linh động thế nào trong khi phù trầm khinh trọng để thấu hiểu bệnh căn.
Lại những thầy khi xem mạch đã để 3 ngón tay rời rạc trên 3 bộ mạch không cần đúng bộ, không cắt móng tay, khi 3 đầu ngón tay quay ra, khi 3 đầu ngón tay lại quay vào không nhất định, vậy mà thấu hiểu và quyết đoán được hư thực tử sinh (tôi có nhìn thấy). Hẳn những vị thầy thuốc ấy là nhà “mạch thiên tài”. Chúng ta nên tìm hiểu.
 
 

 

2.3.ĐỊNH NINH TÔI ĐỂ TAY XEM MẠCH :
            -Khi bệnh nhân để ngửa bàn tay. Tôi thoáng nhìn cổ tay bệnh nhân, nhằm chổ xương hơi nhô ra nơi ngón cái thẳng lên. Tôi để đầu ngón giữa của tôi vào chổ trũng trên các xương nhô ra ấy là bộ Quan, lần lượt để 2 ngón tay kia vào bộ Xích và bộ Thốn. Tôi cũng tùy theo người cao và người lùn mà để ngón tay hơi xa ra hay khít lại như thường lệ.
Nhưng tôi có phần hơi khác. Tôi để 3 ngón tay hơi dựng đứng cho 3 đầu ngón tay đứng thẳng trên 3 bộ mạch của bệnh nhân.
            Tại sao?
            -Tôi cho rằng: Xúc giác đầu chóp ngón tay nhậy cảm hơn hết so với phần khác.
Để 3 ngón tay hơi dựng đứng như vậy, đã dễ nghe mạch, dễ thấy mạch để đưa 3 đầu ngón tay theo dõi, dễ đun đi đẩy lại để tìm mạch. Nhất là khi gặp mạch ẩn phục giáp phía trong gân xương càng dễ móc vào trong đó tìm mạch. (Biết rằng khi để 3 đầu ngón tay hơi dựng đứng trên cổ tay bệnh nhân thì móng tay của mình phải được cắt sát).
            -Khung cảnh ngồi ghế xem mạch trên bàn. Thầy thuốc và bệnh nhân bao giờ cũng đối diện. Tay phải thầy thuốc xem mạch tay phải bệnh nhân thì 3 ngón tay và cả bàn tay thầy thuốc phải cong cong vòng qua cổ tay bệnh nhân, không khi nào ngón tay bàn tay mình để sát xuống cổ tay bệnh nhân, mà ngón tay cái và ngón tay út thì giơ ra ngoài, không hề để xuống bàn tay và cổ tay bệnh nhân. Còn tay phải thầy thuốc xem mạch tay trái bệnh nhân thì bàn tay thầy thuốc ở ngoài cổ tay bệnh nhân, khỏi phải nói.
(Nhớ rằng khi để tay xem mạch tối kỵ việc để ngón tay cái của mình xuống bàn tay bệnh nhân. Tại sao? Tự tìm hiểu.).
            -Định Ninh tôi nghĩ rằng : Việc để tay xem mạch, mặc dù phải lấy phương cách người xưa là mực thước chỉ dạy, nhưng tự mình cũng phải tìm hiểu mà suy diễn cải tiến tùy thời cho nó có mỹ quan, có kỹ thuật và vệ sinh nữa mới là hoàn bị.
            Ta nhìn kiểu cách 3 đầu ngón tay bằng phẳng dựng đứng trên 3 bộ mạch và cả bàn tay cong cong vòng qua cổ tay bệnh nhân không phải là đẹp mắt, khéo tay và sạch sẽ mà nhất là tránh khỏi con mắt bàng quan dị nghị nữa sao?
 
      2.4.XEM MẠCH NAM TẢ NỮ HỮU-MỆNH MÔN NAM HỮU NỮ TẢ.
NAM TẢ NỮ HỮU
 
            -Nhiều cụ già ngoài y giới thường truyền khẩu cho con cháu : “Tao thấy thầy thuốc giỏi khi xem mạch thì đàn ông tai trái trước, tay mặt sau, đàn bà tay mặt trước tay trái sau. Nếu thầy nào xem mạch ngược lại, thầy đó dốt. Nghĩa là nam tả nữ hữu mới đúng vậy”.
Lời nói ấy nghe đã quen tai, mà cũng là có thật. Ta phải chấp hành. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp, ta xem mạch phải tùy việc, không thể theo chiều hướng tả hữu nhất định ấy được, ví dụ :
            Một ông khi đang lăn lộn, tay trái còn ôm bụng, ôm đầu, ta phải xem tay mặt trước.       Một bà bệnh, tay phải đang bồng con ngủ, ta xem tay trái trước. Nhiều trường hợp bệnh cấp tính tương tự như vậy, đâu có thể ngồi chờ mà “nam tả nữ hữu” được.
Nếu kẻ bàng quan nào chê dốt, ta phải giải thích rõ ràng: “Chúng tôi đã kinh trị, lúc cấp thời phải biết tùy việc. Tuy xem mạch ngược chiều mà vẫn nhẫm tính theo cái lý thuận, không thể sai”.
Giờ ta tìm hiểu nam tả nữ hữu có nghĩa gì? Áp dụng trong việc xem mạch có cần thiết không? Và tại sao?

Trời
Dương
Đất
Âm
Người nam
Dương
Người nữ
Âm
Tay trái
Dương
Tay phải
Âm

            -Lý thiên địa, chủ về dương, dương phải mạnh hơn âm. Chủ về âm, âm phải mạnh hơn dương, vạn vật đều thế.
            -Xem mạch người nam bắt buộc phải xem tay trái trước tay phải.
            -Xem mạch người nữ bắt buộc phải xem tay phải trước tay trái.
            Tại sao? Bởi:
            -Người nam bẩm thụ dương khí nhiều, người nam là dương, tay trái cũng là dương. Xem mạch người nam tay trái mạnh hơn tay phải là dương nhiều hơn âm, thuận. Nếu ngược lại, tay phải mạnh hơn tay trái, là đàn ông mà mang mạch đàn bà, âm thắng dương, nghịch. Tức người nam ấy có bệnh dương suy.
            -Người nữ bẩm thụ âm khí nhiều, người nữ là âm, tay phải cũng là âm. Xem mạch người nữ, tay phải mạnh hơn tay trái, là âm nhiều hơn dương, thuận. Nếu ngược lại, tay trái mạnh hơn tay phải, là đàn bà mà mang mạch đàn ông, dương thắng âm, nghịch. Tức người nữ ấy có bệnh âm suy.
            Vậy nói chung: việc áp dụng xem mạch, người nam tay trái trước, người nữ tay phải trước, chỉ là để tìm âm dương lên xuống thịnh hay nghịch mà thôi. Thật ra nếu bảo rằng, để nhận thức về “âm thắng dương hay dương thắng âm” thì cũng chỉ có căn cứ để tìm bệnh phần nào mà thôi, chẳng cần thiết bao nhiêu.
Điều cần thiết trong danh từ “nam tả nữ hữu” chú ý vào hai bộ Xích của người nam và người nữ.
            -Nam dỉ tả xích nhi tàng tinh hay Nam dĩ tả xích vi tinh phủ (cũng là một). Nghĩa là người nam tàng trữ Tinh khí ở bộ Xích tay trái (nam tả, tả thận). Xem mạch người nam hễ bộ Xích tay trái bình hòa có lực thì biết người ấy Tinh khí dư dật, khỏe mạnh. Nếu bộ Xích tay trái trầm vi vô lực (chìm nhỏ, đi yếu) thì không khỏe.
            -Nữ dĩ hữu xích nhi hệ bào hay Nữ dĩ hữu xích vi huyết hải (cũng là một). Nghĩa là người nữ buộc giây bào thai (mạch nhâm) và chứa huyết hải (mạch xung) ở bộ xích tay phải (nữ hữu). Xem mạch người nữ hễ bộ xích tay phải bình hòa có lực, thì biết người ấy tử cung và huyết tốt. Khỏe mạnh. Nếu bộ Xích tay phải trầm vi vô lực thì không khỏe.
            -Nam tả xích, nữ hữu xích. Tinh huyết đầy đủ thì khỏe mạnh, ít có bệnh tật, cũng như cây có rễ cái ăn sâu dưới đất thì dù gió bão cũng không đổ ngã.
 
            2.5.MỆNH MÔN NAM HỮU NỮ TẢ
            -Nam tả nữ hữu nói trên: Nam xem tay trái trước tay phải, Nữ xem tay phải trước tay trái. Nam tàng tinh ở tả Xích. Nữ tàng huyết ở hữu Xích.
            -Nam tả nữ hữu ấy cố định đã nói rõ, nhưng khi xem mạch Mệnh môn thì ngược lại, ít ai để ý Nam hữu, Nữ tả.
            -Nam tử thuộc dương, chủ về tay trái (trái là dương). Dương khí vận hành theo khí trời (trời là dương), dương đi từ trái sang phải, cho nên Mệnh môn ở tay phải, Thận ở tay trái.
            -Nữ tử thuộc âm, chủ về tay phải (phải là âm). Âm khí vận hành theo khí đất (đất là âm), âm đi từ phải sang trái, cho nên Mệnh môn ở tay trái, Thận ở tay phải.
            -Như vậy mạch Mệnh môn của người nam ở tay phải, mạch Mệnh môn của người nữ ở tay trái. Cho nên nói : Mệnh môn nam hữu, nữ tả.
            -Xét tên gọi của Mệnh môn, còn có tên Mệnh Mạch, lại có huyệt Thần Môn ở kế cận. Như vậy “Bổn mạng và Thần khí” của con người ở cả Mệnh môn, cho nên khi ta xem mạch lúc nào cũng phải chú ý vào mạch Mệnh môn, hễ mạch Mệnh môn đi nổi tràn đầy thì khỏe.
            -Nam tử lúc bệnh, xem mạch Mệnh môn ở hữu Xích nổi đầy thì bệnh dù nặng cũng khỏi. (Đây nói mạch Mệnh môn nổi đầy khi bệnh nặng, còn mạch Mệnh môn nổi đầy khi thường, hiệp với Tâm hồng thì khác).
            -Việc xem mạch để đoán bệnh sống hay chết, ta vẫn lấy Vị khí làm chủ, hễ mạch Vị khí còn thì sống, nếu mạch Vị khí hết thì chết, nhưng nên nhận định thêm về mạch Mệnh môn nữa càng chính xác hơn. Hễ mạch Mệnh môn tràn đầy thì tốt, nếu mạch Mệnh môn chìm yếu thì xấu.
 
3.VỊ TRÍ TẠNG PHỦ TRONG 3 BỘ MẠCH THEO VƯƠNG THÚC HÒA
            -Xếp đặt vị trí từng tạng, từng phủ vào 3 bộ mạch Thốn Quan Xích ở Thốn khẩu (cổ tay, trái và phải). Ta phải nhận định cho kỹ Tạng Phủ nào ở bộ mạch nào và ở tay nào cho rõ ràng đích xác mà thuộc nằm lòng. Đến khi để tay xem mạch ở bộ nào thì đã biết ngay là xem tạng phủ ấy.
 

 
Thốn
Quan
Xích
Tay trái
Tâm-Tiểu trường
Can-Đởm
Thận-Bàng quang
Tay phải
Phế-Đại trường
Tỳ-Vị
Mệnh môn-Tam tiêu-Tâm bào

Tay trái
-Tâm (tạng), Tiểu trường (phủ) ở bộ Thốn tay trái. Gọi tắt ở tả Thốn.
-Can (tạng), Đởm (phủ) ở bộ Quan tay trái, gọi là tả Quan.
-Thận (tạng), Bàng quang (phủ) ở bộ Xích tay trái, gọi tắt ở tả Xích.
Tay phải
-Phế (tạng), Đại tràng (phủ) ở bộ Thốn tay phải, gọi là hữu Thốn.
-Tỳ (tạng), Vị (phủ) ở bộ Quan tay phải, gọi là hữu Quan.
-Mệnh môn (tạng), Tam tiêu, Tâm bào lạc (phủ) ở bộ Xích tay phải, gọi là hữu Xích.
            -Nhìn lên sự xếp đặt từng tạng từng phủ và 3 bộ mạch nói trên, ta thấy rõ mỗi bộ mạch có một tạng một phủ vậy.
            -Xét ra, ta nói người xưa đã “xếp đặt” từng tạng, từng phủ vào 3 bộ mạch là không đúng. Ta phải nói người xưa đã “tìm ra” tạng ấy, phủ ấy ở bộ mạch ấy mới đúng. Vì tạng ấy phủ ấy ở bộ mạch ấy là nguồn mạch cố hữu tự nhiên của nó, đâu có thể gò ép nó mà xếp đặt cho đâu vào đấy cho gọn, cho đầy đủ vậy. (Danh từ : tả Thốn, tả Quan, tả Xích hay hữu Thốn, hữu Quan, hữu Xích cần phải ghi nhớ cho rành rẽ, phòng khi đối thoại tỏ ra ta đã quá tinh tường.).
Như vậy, ta đã biết tay trái có những tạng phủ nào ở bộ nào và tay phải có những tạng phủ nào ở bộ nào rồi. Ta phải đọc thuộc lòng 2 câu : (trong khi nhẩm đọc, ta phải thầm nhớ Thốn, Quan, Xích).
Tả: Tâm, Tiểu trường (Thốn) Can, Đởm (Quan) Thận, Bàng quang (Xích).
Hữu: Phế, Đại trường (Thốn) Tỳ, Vị (Quan) Mệnh môn, Tam tiêu, Tâm bào (Xích).
Đến khi ta xem mạch tay trái, để ngón tay vào:
-Bộ Thốn, ta thầm nhớ Tâm, Tiểu trường.
-Bộ Quan, ta thầm nhớ Can, Đởm.
-Bộ Xích, ta thầm nhớ Thận, Bàng quang.
Xem mạch tay phải, để ngón tay vào:
-Bộ Thốn, ta thầm nhớ Phế, Đại tràng.
-Bộ Quan, ta thầm nhớ Tỳ, Vị.
-Bộ Xích, ta thầm nhớ Mệnh môn, Tam tiêu, Tâm bào.
Theo ý kẻ soạn giả, tất cả nhẩm đọc như vậy là sao quên, làm sao nhầm lẫn được, nhưng trong khi để tay xem mạch đó còn phải Đơn khán, Tổng khán. Đồng thời Phú án, Trung án và Trầm án nữa mới đủ nguyên tắc trước sau về vị trí tạng phủ ở các bộ mạch và còn phải tìm hiểu nguyên lý xếp đặt như vậy là thế nào cho rõ hết ý nghĩa.
 
      3.1.ĐƠN KHÁN, TỔNG KHÁN:
            3.1.1.Đơn khán: Xem từng đơn vị một, nghĩa là 3 ngón tay, mỗi ngón xem một bộ (tức mỗi ngón tay xem một đơn vị) bộ Thốn, bộ Quan, rồi bộ Xích để tìm xét kinh lạc tạng phủ ở đơn vị (bộ) ấy có những bệnh gì. (Khi ấn một ngón tay để xem một đơn vị thì 2 ngón kia để hờ ở trên).
            3.1.2.Tổng khán: Xem chung cả 3 bộ. Nghĩa là sau khi đã xem từng đơn vị, để biết bệnh ở các đơn vị ấy thế nào rồi thì 3 ngón tay xem chung cả 3 bộ một lượt, cùng ấn nhẹ, ấn trung bình và cùng ấn nặng, để biết toàn thể bệnh ở cả 3 bộ ấy thế nào, mới quyết đoán trọn vẹn được hư thực tử sinh của căn bệnh ấy.
                        -Đơn khán hay Tổng khán đều dùng trước là Phù án rồi Trung án, sau cùng là Trầm án.
                        -Phù án: Để nhẹ ngón tay lên làn da, nhưng có ấn xuống tới thịt một chút để xem bệnh ở Lục phủ (phù án xem Lục phủ).
                        -Trung án: Ấn ngón tay tới khoảng thịt. Nghĩa là ấn ngón tay tới mức trung độ, không ấn nặng quá mà cũng không ấn nhẹ quá, để xem bệnh ở Vị khí (trung án xem Vị khí).
                        -Trầm án: Ấn ngón tay thật nặng tới xương, để xem bệnh ở Ngũ tạng (trầm án xem Ngũ tạng).
Cách để ngón tay xem mạch từng nấc như vậy, gọi là Tam Hậu, 3 nấc hay 3 mức xem.
                                                                                                                         (Còn tiếp)

                                                                                                                                                       Người ghi chép

BS. HUỲNH CẨM KHƯƠNG - Khoa Đông y BV Đa Khoa Hồng đức 3
Các bài khác