đông y - logo bệnh viện Hồng Đức
     
 
 
 
Thông Tin Mới
GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA 3 LOẠI HẠT ĐẬU ĐEN -ĐẬU ĐỎ -ĐẬU XANH
15/01/2012 | Xem thêm
----------------------------------
SEN
22/12/2011 | Xem thêm
----------------------------------
LỢI ÍCH TỪ HẠT BÍ
18/12/2011 | Xem thêm
----------------------------------
HOÀNG ĐẾ NỘI KINH LINH KHU (Kỳ 3)
17/12/2011 | Xem thêm
----------------------------------
MÙA ĐÔNG TẮM NHIỀU DỄ NGỨA
15/12/2011 | Xem thêm
----------------------------------
 
 
 
 
Liên Kết
 
 
 
 
 
 
HTML Counter
 

ĐỊNH NINH TÔI HỌC MẠCH (KỲ 1)

 

 

                                 GIỚI THIỆU SÁCH “ĐỊNH NINH TÔI HỌC MẠCH”

 
            Bắt mạch là 1 trong 4 nội dung để khám bệnh theo Đông Y , Vọng (nhìn, quan sát), Văn (nghe, ngửi), Vấn (hỏi bệnh), Thiết (sờ nắn, bắt mạch). Trong chẩn đoán bệnh, có những trường hợp những triệu chứng của bệnh nhân (Vọng chẩn, Văn chẩn, Vấn chẩn) và mạch (Thiết chẩn) của bệnh nhân không tương quan với nhau, thì tùy vào từng trường hợp cụ thể mà người Thầy thuốc phải bỏ chứng mà theo mạch hay là bỏ mạch mà theo chứng. Do đó bắt Mạch là một phần không thể thiếu trong khám bệnh theo Đông y.
            Tuy nhiên, bắt Mạch đúng là một chuyện rất khó, bởi vì nó tùy thuộc vào cảm nhận bằng đầu ngón tay của người Thầy thuốc. Bắt mạch phải có một quá trình tích lũy kinh nghiệm lâu dài.
            Ngày xưa học nghề thuốc thì có Thầy cầm tay chỉ Mạch. Hiện nay, việc học Mạch càng khó khăn hơn, bởi vì thiếu thốn đủ thứ.
            Bởi thế nên tôi xin giới thiệu với các bạn quyển sách ĐỊNH NINH TÔI HỌC MẠCH của Cụ ĐỊNH NINH – LÊ ĐỨC THIẾP, một quyển sách mà tôi cho là dễ đọc, dễ hiểu và rất có giá trị. Quyển sách này do BS HUỲNH CẨM KHƯƠNG đánh máy lại trên nguyên tắc tôn trọng bản gốc và bản quyền của tác giả, một số hình ảnh do trên bản gốc quá mờ nên tôi xin phép được thay bằng ảnh khác. Chúng tôi làm công việc này không ngoài mục đích phổ biến một tài liệu rất có giá trị nhằm giữ gìn và phát triển nền y học Đông phương.
Xin được phép và biết ơn Cụ  Định Ninh!

                                                           PGS.TS.LƯU THỊ HIỆP- Trưởng khoa Đông y Bệnh viện Đa khoa Hồng đức 3

 

LỜI NÓI ĐẦU
            Tháng giêng năm 1979 tôi giải bài đề tài Định Ninh Tôi xem Mạch tại câu lạc bộ Viện Y Dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh.
           Tháng sáu năm 1980 đề tài này được câu lạc bộ YHDT của Sở Y Tế thành phố Hồ Chí Minh cho ấn hành. Tất cả tôi nhận được nhiều khen thưởng và khích lệ.
Từ đó tôi gặp nhiều quý vị lương y cao niên bạn, và các quý vị lương y, bác sỹ cao học vặn hỏi:
“Ông xem mạch như vậy, ông học mạch thế nào?”.
Đồng thời tôi nhận thấy các bạn tân tiến ham nghiên cứu y học cổ truyền đòi hỏi sách mạch của tôi khá nhiều.
            Lý do đó khiến tập sách Định Ninh Tôi Học Mạch ra đời để nói rõ phương thức học mạch của tôi, nhằm trả lời các bậc trên và đáp lại lòng mong muốn của các bạn tân tiến.
Mở đầu vào nghề khi tôi mới 18 tuổi đã có học trình phổ thông, phụ huynh tôi chỉ dạy sơ bộ về Âm Dương, Ngũ Hành, Ngũ Tạng, Lục phủ và Thập nhị kinh lạc. Sau mới dạy tôi học Mạch. Tôi cũng chỉ để tay trên bộ Mạch lần mò phỏng đoán nói dựa. Người ngoài nhìn cho là tôi đã biết xem Mạch, thực ra tôi chẳng hiểu gì.
            Tôi đọc các sách Mạch Việt văn của các vị tiền bối phiên dịch, tôi thấy ngắn gọn như cổ thư, khó tiếp thu.
            Tôi đọc mấy sách mạch Hán văn lại quá thâm uyên không tìm ra đầu mối gốc rễ. khi tôi đọc mạch pháp Y Học Nhập Môn ( tác giả Nam Phong Lý Diên) tôi mới tìm ra được nhưng phương thức bắt mạch cơ bản, rành mạch.
            Tôi nhìn thấy rõ một con đường học mạch khá dài, có phương thức thứ tự, không lộn xộn sau trước, không mơ màng chán nản trong tư tưởng. Tôi học mạch theo đường ấy như có người chỉ dẫn đi từ gần dần dần ra xa xa, rồi tới đích rất chính xác. Kèm theo đó trong khi tôi xem mạch cho người bệnh, tôi vẽ từng nét Mạch để suy luận và luôn luôn suy nghĩ về Mạch lý trong đầu óc. Nhờ vậy đến ngày nay tôi 80 tuổi cũng nắm chắc được ít nhiều trong Mạch học, để nói ra đây.
            Phương thức thứ tự này là đầu mối, là chủ chốt để học mạch. Những mạch gia thiên tài cao giỏi gấp mấy cũng không ngoài phương thức này trước khi thông đạt: những Nạn kinh mạch, Lư san mạch cũng phải qua trình độ này mới đọc được.
Ngoài ra Thời lệnh mạch, Kỳ kinh mạch, tôi còn đang học chưa dám bàn tới. Còn Thái tố mạch là mạch xem về vận số không thuộc phạm vi xem mạch biết bệnh, không nói đến.
            Nội dung ĐỊNH NINH TÔI HỌC MẠCH này chỉ trình bày phương thức thứ tự nói trên. Các bạn tân tiến ham học đọc hết mà suy luận có thể như bắt tay các bạn vào xem mạch để biết bệnh vậy.
            Sau 10 năm soạn thảo và 10 tháng viết ra, nay “Định Ninh Tôi Học Mạch” đã xong. Tôi thành tâm cống hiến tâm đắc này để quý vị tham khảo.
                                                                     Thành phố Hồ Chí Minh, Mùa thu năm 1981.
                                                                     Lương Y Định Ninh Lê Đức Thiếp.


Chương 1
TỨ CHẨN
ĐẠI CƯƠNG:
Chẩn: xem xét.
Tứ Chẩn: 4 phép xem xét hay nói 4 phép khám bệnh, để biết bệnh.
1.Vọng chẩn: trông nhìn hình sắc, điểu bộ.
2.Văn chẩn: nghe ngóng thanh âm, hơi thở và ý tứ.
3.Vấn chẩn: hỏi rõ bệnh căn, trạng chứng.
4.Thiết chẩn: xét đoán bộ mạch.
Bốn phép chẩn ấy gọi tắt là Vọng, Văn, Vấn, Thiết.
Vọng, Văn, Vấn, Thiết: 4 tên gọi thuộc hành động của 4 bộ phận (mắt, tai, miệng, tay) tuy khác nhau, nhưng khi sử dụng phải liên hiệp với nhau để đúc kết mà biết bệnh.
Vọng, Văn, Vấn, Thiết: tuy có xếp thứ tự trước sau (1.Vọng 2.Văn. 3.Vấn. 4.Thiết) đó là nói, trước nhìn hình sắc người bệnh (vọng), rồi nghe tiếng nói (văn), hỏi thêm bệnh căn (vấn), sau cùng mới thiết mạch (thiết), hầu như không thể đảo lộn. Nhưng chỉ cần biết rằng : “vọng là sơ khởi mà thiết là tối hậu”. Còn Vọng, Văn, Vấn có thể linh động trong chung một lúc, hay khi thiết mạch đồng thời Vọng, Văn, Vấn cũng đựơc, miễn là thầy thuốc có đủ khả năng tinh thần và tài nghệ.
Phép tứ chẩn là công việc đầu tiên của người thầy thuốc và là chủ chốt rất cần thiết của chức nghiệp người thầy thuốc. Công việc đó đòi hỏi ngừơi thầy thuốc phải học hỏi, phải suy xét, mổ xẻ, mài dũa cho thấu đáo tinh tường và sâu rộng để rồi định bệnh lập phương mà trị liệu cho xác thực mà linh nghiệm mới có thể là một lương y. nếu không biết gì hay chỉ lơ mơ mà cũng để tay xem mạch, nói bệnh, cho thuốc thì khác nào như “mò kim đáy biển” e có thể nguy hại cho bệnh nhân.
Trong khi khám bệnh, người thầy thuốc phải sử dụng cả ngũ quan của mình : Thị giác thần kinh để xem xét; thính giác thần kinh để nghe ngóng; khẩu giác thần kinh để hỏi đáp; xúc giác thần kinh để chẩn đoán, thêm vào đó có khứu giác thần kinh để đánh hơi. Thật cả một bộ máy tinh thần phải đem hết vào công việc tứ chẩn lúc ấy.
Thời đại người xưa chưa phải là thời đại điện năng cơ khí, mà các bậc thánh nhân tìm tòi suy luận phát minh ra pháp tứ chẩn này để xem biết bệnh căn, thật là một khoa học tinh kỳ, giao hòa với âm dương, ứng hợp với ngũ hành, đối chiếu với kinh lạc tạng phủ của con người, có kỷ cương, có đạo lý uyên thâm mà phong phú, mãi mãi trước sau phải lấy đó làm căn bản, để thi dụng trong việc trị bệnh. Mặc dầu ngày nay đã văn minh, hay sau này còn văn minh đến cực độ, cũng không thể đổi thay, không thể chê bỏ. Thật đúng vậy !.
  
          1.1.VỌNG CHẨN:
            1.1.1Vọng chẩn: xem xét bệnh bằng cách lấy mắt nhìn. Nhìn tinh thần hình sắc để biết bệnh : “đã phát hay sẽ phát” mà trị liệu mà đề phòng.
            Người thầy thuốc đứng trước người bệnh (bất kỳ nam hay nữ, già hay trẻ) phải trông diện mạo, trông hình dáng, ngắm điệu bộ toàn thân, nhìn khí sắc tinh thần và cách đứng ngồi nghiêng ngã để ngầm đoán bệnh của con người ấy trong tư tưởng của mình.
            Cách nhìn người bệnh chỉ nên vừa nói chuỵên, vừa nhìn thoáng qua, chứ không nhìn chừng chừng vào mặt người ta như các thầy xem tướng, trừ khi bệnh nặng thì phải nhìn kỹ để xem.
            1.1.2.Nhìn tổng quát:
Trước hãy nhìn tổng quát xem người ấy gầy hay béo:
Người gầy mà đen thì chân huyết hư hàn (máu lạnh, thiếu máu) mà lại có hỏa nhiệt (huyết hư hữu hỏa).
Người béo mà bạch thì chân khí hư hàn (khí lạnh, thiếu khí sức) mà lại lắm đàm thấp (khí hư đa đàm).
            1.1.3.Nhìn hình dáng:
Tướng đi cứ khom người xuống hay ưỡn ngữa người ra thì hẵn là đau lưng.
Ôm đầu ngồi nhăn mặt cau mày thì hẵn là nhức đầu, váng đầu.
Tay không giơ lên được thì hẵn là đau vai.
Bước đi khó khăn là mỏi cẳng nhức chân.
Tay cứ bóp bụng nắn hông thì hẵn là đau bụng.
Ngủ nhiều không buồn dậy là Tỳ hàn mà âm thịnh dương suy.
Ngủ không được, thức chong chong là đàm hỏa thịnh.
Nằm co, quay mặt vào xó tối không dám nhìn ra ánh sáng là hàn lãnh.
Nằm ngữa phơi người ra là nhiệt.
Sau nhìn từng bộ vị ở trên mặt, khí sắc của ngũ tạng trong người đều ứng hiện ra cả các bộ vị nào thuộc tạng nào rồi tính (tương sinh, tương khắc) (như tính sinh khắc trong ngũ hành), để biết bệnh ở tạng nào mà quyết đoán bệnh ấy tử sinh (tương sinh thì sống, tương khắc thì chết).
Những khí sắc của ngũ tạng hiện ra, đúng màu sắc của nó thì vô bệnh, nếu biến đổi màu sắc là có bệnh.
            1.1.4.Bộ vị màu sắc chính của Ngũ Tạng ở trên mặt.
Trên khuôn mặt người ta đều ứng hiện đủ cả khí sắc của Ngũ tạng có liên hiệp ngũ sắc, ngũ thời và ngũ hành.

Số TT
Bộ vị
Tạng
Sắc
Mùa
Hành
1
2
3
4
5
Trán (thiên dình)
Má bên trái (tả giáp)
Má bên phải (hữu giáp)
Vành hàm dưới (địa các)
Đầu mũi (tỵ chuẩn đầu)
Tâm
Can
Phế
Thận
Tỳ
Đỏ
Xanh
Trắng
Đen
Vàng
Hạ
Xuân
Thu
Đông
Tứ quý
Hỏa
Mộc
Kim
Thủy
Thổ

            1.1.4.1.Ngũ sắc:
            Đỏ, Xanh, Trắng, Đen, Vàng màu sắc nào cũng phải có thần khí hiện ra trong màu sắc đó. Ví dụ:
                        -Đỏ thì đỏ tươi như màu đỏ mào gà.
                        -Xanh thì xanh bóng như cánh chim Trả.
                        -Trắng thì trắng bóng như miếng mỡ heo.
                        -Đen thì đen nhánh như lông cánh chim.
                        -Vàng thì vàng tươi như gạch cua.
            Đó là những màu sắc có thần, có khí (nghĩa là nhìn nó tựa hồ như có khí sức sống động). Bệnh nhân có màu sắc ấy sẽ sống.
                        Ngược lại:
                        -Đỏ khô như cục gạch.
                        -Xanh xám như màu chàm.
                        -Trắng xác như xương khô.
                        -Đen ảm như bồ hóng (ám khói).
                        -Vàng lợt như màu đất thố (đất sét).
            Đó là những màu sắc không có thần (vì hết khí thì không có thần). Bệnh nhân có màu sắc ấy sẽ nguy. Cho nên nói rằng :
                        “Thần vượng thì sắc vượng, thần suy thì sắc suy”.
            1.1.4.2.Nhìn toàn bộ mặt:
                        -Mặt đỏ hồng là phong.
                        -Mặt tái xanh là đau bụng.
                        -Mặt trắng lợt là hàn.
                        -Mặt thẫm đen là lao.
                        -Mặt vàng là đại tiểu tiện khó khăn.
            1.1.4.3.Nhìn mũi :
                        -Đầu mũi: bình thường đỏ và ngứa là phong nhiệt. Bất thần đỏ là bệnh nặng.
                        -Đầu mũi xanh là đau bụng.
                        -Đầu mũi trắng là bệnh mất máu.
                        -Đầu mũi đen, trong người có nhiều nước.
                        -Đầu mũi vàng là trong bụng lạnh.
            1.1.4.4.Nhìn môi, miệng, lưỡi:
                        -Môi dưới tự nhiên thâm đen là Tỳ Thận hàn.
                        -Môi đỏ mà khô là tâm vị nhiệt.
                        -Lưỡi sưng đầy trong miệng nói không ra tiếng là “trùng thiệt” (tựa như 2 lưỡi) làm ăn uống không tiêu.
                        -Lưỡi sưng đầy trong miệng mà cứng là “mộc thiệt” (lưỡi cứng như khúc cây) là khó thở.
                        -Lưỡi đỏ, đầu lưỡi nhọn, và đỏ cả 2 môi là tâm nhiệt.
                        -Lưỡi vàng, lưỡi khô, lưỡi mọc gai đều là nhiệt.
                        -Lưỡi cứng, lưỡi co rụt lại là nguy chứng.
                        -Lưỡi thè dài ra là bệnh   “âm dương dịch” rất nguy.
            (Âm Dương Dịch: âm di dịch sang dương, dương di dịch sang âm. Nghĩa là đàn ông mắc bệnh Thương hàn vừa mới hết nhưng chưa phải đã hết hoàn toàn mà vội giao cấu với đàn bà thì cái dương là còn lại ấy nó di dịch sang là bệnh cho đàn bà gọi là dương dịch. Ngược lại gọi là âm dịch.)
                        -Giữa lưỡi trũng xuống, chung quanh lưỡi như răng cưa là bệnh bất trị.
                        -Phía trên lưỡi và phía dưới lưỡi phồng lên như bong bóng, như con tằm nằm là bệnh bất trị.
            1.1.4.5.Nhìn lưỡi trong lúc có bệnh Thương Hàn:
                        -Lưỡi trơn ướt dính dính như thường là bệnh còn ở Biểu phận.
                        -Lưỡi ươn ướt mà lại đóng trắng ở trên là bệnh bán biểu bán lý.
                        -Lưỡi khô mà vàng vàng là bệnh đã nhập lý.
                        -Lưỡi đen là bệnh nhập lý đã nặng. Lưỡi đen chia 2 loại : Đen cháy nứt nẻ mọc gai là nhiệt cực, Đen mà có nước miếng   trơn nhuần thì lại là hàn.
                        -Lại nhìn toàn bộ mặt không có mọc mụn mà chỉ vành môi trên có mọc vài mụn như mụn trứng cá là trùng đang cắn ở trong ruột già . Hay chung quanh môi và hàm dưới mọc vài mụn như mụn trứng cá là trùng đang cắn ở giang môn. Đó là loại trùng “hồ và hoặc” trong lúc thương hàn biến chứng. Trong lúc bình thường mà có mụn mọc ở môi trên môi dưới như vậy, hẵn là người ấy đang mắc bệnh trĩ.
                        -Miệng lưỡi lở mà mụn lỡ đỏ là tâm nhiệt.
                        -Miệng lưỡi lở mà mụn lở trắng là Phế nhiệt.
                        -Miệng lưỡi lở mà mụn lở đỏ trắng lẫn lộn là Tâm Phế đều nhiệt.
            1.1.5.Nhìn mắt (khi đang bệnh) :
                        -Mặt vàng mà mắt xanh hay đỏ trắng đen là dấu khỏi bệnh. Nếu :
                        -Mặt xanh mà mắt đỏ là Tâm Can tuyệt (tuyệt là hết khí).
                        -Mặt xanh mắt vàng là Can mộc khắc Tỳ thổ.
                        -Mặt đỏ mắt trắng là hỏa khắc kim.
                        -Mặt xanh mắt đen là Can Thận tuyệt.
                        -Mặt đỏ mắt xanh là Tâm Can tuyệt.
                        -Mặt nhìn lơ láo là tà khí nhập Can.
                        -Mặt nhìn ngược mà không biết gì là Can mộc khắc Tỳ thổ.
                        -Lại nhìn mắt lúc bình thường :
                        -Mắt đỏ sưng là Can nhiệt, phong nhiệt.
                        -Mắt không đỏ, nước mắt sống chảy ra nhiều là Can huyết hư.
                        -Mi mắt dưới phía trong trắng lợt là Can huyết hư hàn.
            1.1.6.Nhìn chung hình sắc trong lúc bệnh nặng :
                        -Khóe mắt vàng vàng là bệnh sắp hết.
                        -Hơi người xông ra hôi thối là thịt đã chết.
                        -Lưỡi rụt, dái săn là Can đã tuyệt.
                        -Miệng há hốc không ngậm lại là Tỳ đã tuyệt.
                        -Tóc dựng đứng, da thịt và xương khô là Thận đã tuyệt.
                        -Đái ra quần không biết là Thận đã tuyệt.
                        -Lông da khô là Phế đã tuyệt.
                        -Mặt đen xạm, mắt nhìn ngược là âm khí đã tuyệt.
                        -Vành mắt trũng xuống mà mồ hôi ra từng giọt tròn tròn như hạt châu ở trên mặt (nhất là ở trán) dính lại không rớt xuống là Dương khí đã tuyệt.
                        -Lòng bàn tay không còn vân vết gì là Tâm bào tuyệt.
                        -Móng tay, móng chân biến sắc xanh là Can Thận tuyệt.
                        -Những thể tạng xấu trong lúc bệnh nguy còn nhiều không thể kể hết.
            1.1.7.Nhìn mụn ban (sởi) :
                        -Ban có nhiều loại nhưng cứ nhìn màu sắc mụn :
                        -Mụn ban lên như hạt kê rắc trên mặt trên mình mà màu đỏ là ban đỏ, phần nhiều thuộc nhiệt.
                        -Nhưng ban đỏ chưa trị hết mà để gió hay nước lạnh thấm vào thì biến ra sắc đen, có thể khó trị.
                        -Mụn ban mọc lên cũng như hạt kê rắc mà sắc trắng là ban trắng, loại này phần nhiều thuộc hàn.
            1.1.8.Nhìn mụn đậu :
                        -Đậu có 2 loại : chính đậu (đậu mùa) và thủy đậu (đậu nước).
                        -Mụn đậu mùa thì các mụn đều tròn tròn mà hơi phồng lên, da mụn dầy, phần nhiều là đỏ mắt và nhắm mắt. Loại này dữ.
                        -Mụn đậu nước thì mụn tròn, mụn méo, nhỏ, to không đều, da mụn mỏng, mụn có nước, mụn có mủ, mụn nửa nước nữa mủ. Loại này hiền.
                        -Ở đậu nước, hai con mắt lúc nào cũng sáng trong như thường.
            1.1.9.Nhìn mụn Ung thư (danh từ Ung thư này khác với danh từ Ung thư bên Tây y).
                        -Mụn mọc to hay nhỏ bất luận chỗ nào trong thân thể, phân ra 2 loại : Ung và Thư
                        -Mụn sưng đỏ (chưa có mủ hay đã có mủ) làm đau nhức nóng lạnh rất dữ là                  -Ung. Tuy dữ mà mau khỏi, mụn ung thuộc dương.
                        -Mụn sưng trắng mà da mụn như thường, không đỏ, không đau, không ngứa là Thư. Mụn thư này có khi 10 năm, 20, 30 năm mới đau nhức mà vỡ mủ ra. Khi đã vỡ mủ ra là có thể nguy.Mụn Thư thuộc âm.
            1.1.10.Nhìn phân bệnh lỵ :
                        -Phân tiêu ra có chất trắng như đàm như mũi là Bạch lỵ, hàn.
               
BS. HUỲNH CẨM KHƯƠNG - Khoa Đông y BV Đa Khoa Hồng đức 3
Các bài khác